Sau cái chết của Stalin vào năm 1953, Liên Xô trải qua thời kỳ tự do hóa chính trị xã hội tương đối ngắn được gọi là “Thời kỳ tan băng” (1956-1965). Tuy nhiên, vào cuối những năm 1960, do sự bất mãn đến từ bộ máy Đảng lãng đạo, quá trình đóng băng văn hóa dần bắt đầu nhen nhóm trở lại. Với sự lãnh đạo của Leonid Brezhnev, giới quan chức Liên Xô đã khởi xướng chiến dịch chống lại quá trình “khử Stalin”, tức là nối lại các phiên tòa dàn dựng, tăng cường kiểm duyệt cũng như các nghi lễ nhà nước… Mở đầu thời kỳ trì trệ về văn hóa và kinh tế mới kéo dài từ năm 1966 đến 1985. Hậu quả tất yếu của loạt động thái bảo thủ này đã khiến cho các chuyên gia kiến trúc Liên Xô bị gạt ra ngoài lề xã hội, những ý tưởng táo bạo của họ cũng không còn được nhà nước phê chuẩn và đáp ứng. Các công trình xây dựng thời kỳ hậu Xô Viết trở thành lời cam kết ngầm cho sản lượng và tiêu chuẩn hóa của Đảng. Những khu chung cư đơn sắc, phì đại và tồi tàn bỗng chốc trở thành di sản của kiến trúc thời Brezhnev, vốn dĩ vẫn còn nằm rải rác khắp nước Nga cho tới ngày nay.Thực trạng đau buồn ấy đẩy nghề kiến trúc trở thành một trong những lựa chọn nghề nghiệp không mấy hấp dẫn đối với các tài năng trẻ. Do đó, tình trạng bỏ nghề của các chuyên gia diễn ra trên diện rộng, hơn 500 thị trấn ở Nga không có kiến trúc sư trưởng. Mặt khác, các nhà thiết kế đầy triển vọng khác cũng đã chuyển hướng để có thể tiếp tục theo đuổi ước mơ sáng tạo của họ. Những kiến trúc sư này bắt đầu khám phá một phương thức sản xuất không gian thay thế. Những dự án của họ được hình thành dựa trên những điều không tưởng vốn không cần hiện thực hóa trong thế giới mặt đất “đứng yên”. Những bức vẽ giàu trí tưởng tượng của họ khai thác kết cấu quy hoạch đô thị để tạo nên những không gian mơ ước lơ lửng đâu đó giữa trí tưởng tượng, lịch sử và hiện thực đổ nát của cuộc sống thời hậu Xô Viết. Họ từ chối các mô hình đúc sẵn mà dùng vật liệu xây dựng thay thế: đá cẩm thạch, cát, pha lê, nước và thủy tinh – những vật liệu cơ bản, trần thế và vĩnh cửu mà họ tin rằng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho những trải nghiệm về sự ưu việt siêu hình.Phi thực tế và huyền ảo, những bản phác thảo như vậy đã trở thành hình thức nghệ thuật đầy viển vông trong mắt không ít người đương đời và khiến cho nhiều chuyên gia thiết kế bị tước đi quyền công dân (như Yuri Avvakumov, Evgenii Ass..). Cùng đó, phong trào kiến trúc này cũng bị các nhà thiết kế theo chủ nghĩa Stalin gán cho một cái tên đầy hàm ý miệt thị “Kiến Trúc Giấy” (Paper Architecture) nhằm bôi nhọ các thử nghiệm theo chủ nghĩa Kiến tạo. Tuy nhiên, phong trào “Kiến trúc Giấy” cũng đã kịp thời lan tỏa sang lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và xuất hiện trong các bộ phim Liên Xô thời kỳ trì trệ. Điện ảnh nổi lên như một môi trường tiềm năng cho kiến trúc trong giai đoạn 1970-1980, một không gian thử nghiệm lý tưởng giúp mang lại những trải nghiệm tương tự chủ nghĩa thoát ly tâm lý. Dịch chuyển cùng với lịch sử không gian, điện ảnh tự xác định mình là một hoạt động kiến trúc. Một loại hình nghệ thuật đường phố, một tác nhân trong việc xây dựng cảnh quan thành phố. Như một nghệ thuật không gian, điện ảnh được tạc nên từ sự giao thoa giữa “vô thức kiến trúc” với bất kỳ môi trường không gian nào mà nó được nhúng vào.Cảnh quay cuối cùng trong bộ phim “Nostalghia” (1983) của Andrei Tarkovsky có lẽ là một trong những ví dụ rõ ràng nhất về ảnh hưởng của “Kiến trúc Giấy” lên nền điện ảnh Xô Viết. Một ngôi nhà nhỏ kiểu nằm ẩn mình trong một tu viện. Phong cảnh nước Nga chồng lên trên đống đổ nát của một nhà thờ Ý. Cấu trúc siêu rời rạc về mặt vật lý này thể hiện một khao khát siêu việt, một hoài niệm về một thế giới không có sự phân chia, về thời kỳ tiền luân hồi trước khi Tháp Babel sụp đổ (báo trước xung đột văn hóa và ngôn ngữ sẽ nhấn chìm Đông Âu sau sự sụp đổ của Liên Xô vài năm sau đó). Qua đối chiếu, có thể thấy hình ảnh này rất giống với những tòa tháp thiên đường mờ ảo được vẽ trên canvas bởi Yuri Avvakumov, nhà lý thuyết và cũng là thành viên nổi bật nhất của phong trào “Paper Architecture”. Được xây dựng từ niềm khao khát sáng tạo tâm linh cao cả, vẻ đẹp đầy ám ảnh của tòa tháp đi ngược lại những quy ước tiêu chuẩn của kiến trúc xây dựng thời hậu chiến vốn đặt nặng tính hiệu quả và tối giản. Tuy nhiên, ấn tượng về mặt kiến trúc trong “Nostalghia” chỉ là một thủ thuật thị giác, một bản thiết kế tận dụng khéo léo các tiềm năng của điện ảnh để phá vỡ tọa độ nhận thức của con người về thời gian và không gian.Trên thực tế, quần thể của Tarkovsky không thể xây dựng được theo thiết kế. Dù được làm bằng các vật liệu xây dựng thực như đất đá gỗ, tòa tháp kết hợp kiến trúc Nga-La Mã này vẫn chứa đựng đầy tính phù du, nó say sưa trong sự kỳ quái của chính mình trước khi tan biến vào hư vô khi bộ phim chuyển sang nước phim đen trắng. Nó tưởng niệm những gì còn thiếu trong kiến trúc hiện đại: sự lập dị và tính kỳ ảo. Hòa lẫn với niềm khao khát trường tồn, tòa tháp của Tarkovsky giống như sự mỏng manh của tờ giấy. Một thứ chất ether không thể chạm tới trong trí tưởng tượng con người, một dinh thự thoát ly nằm giữa ranh giới vật chất và phi vật chất. Hình ảnh này phơi bày mối quan hệ mâu thuẫn giữa điện ảnh và hiện thực. Nó lôi kéo chúng ta bằng những không gian thời gian thay thế nhưng không thể nào chạm tới. Cứ như thể một huyễn tưởng bị điện ảnh trêu chọc, nó hiện hữu ở nơi chúng ta không có mặt và có lẽ cũng chỉ xuất hiện khi nào chúng ta chẳng có ở đó. Khi chính sách cải cách của Mikhail Gorbachev đẩy Liên Xô đến bờ vực sụp đổ, ảnh hưởng của phong trào “Kiến trúc Giấy” lên điện ảnh Liên Xô cũng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Những khung cảnh thơ mộng, những địa hình đổ nát, những ảo tưởng đầy hỗn loạn và nhập nhoạng giữa một loạt trạng thái hư ảo mơ – thực… đây đều là những mô típ quen thuộc trong các tác phẩm điện ảnh kinh điển của Liên Xô trước khi sụp đổ (“Asthenic Syndrome” của Kira Muratova, “My Friend Ivan Lapshin” của Aleksei Gherman hay “Happy Days” của Aleksei Balabanov..).Tuy nhiên, những hình ảnh phim hay bản thiết kế kiến trúc này không phải là những tưởng tượng thoát ly thực tại thông thường của một cá thể. Chúng liên quan chặt chẽ đến cái chết và sự tự tan biến. Chúng không đơn thuần phản bác hiện thực mà còn kêu gọi sự phủ nhận hiện thực. Những giấc mơ về sự vĩnh cửu và thống nhất này, cùng những người nghệ sĩ và cả hình mẫu nhân vật an ủi của họ nhắc nhở chúng ta về một khát vọng cấm kỵ từ thời xa xưa: khao khát hướng cái chết trong vô thức của con người. Chừng nào chúng ta còn phải tuân theo thời gian, và sự phục tùng này bộc lộ một cách mạnh mẽ nhất với niềm tin chắc rằng chúng ta phải chết, chúng ta không thể sống bình yên. Niềm khao khát về sự vẹn nguyên (vô hạn) chỉ có thể thực hiện được khi nào chúng ta không có mặt: trong giấc ngủ, trong phim, trong bóng tối và cả trong cái chết. Màn ảnh trở thành một lãnh địa khai thác tiềm năng cho kiến trúc, một không gian trốn thoát mà ở đó những tưởng tượng không gian mới tìm thấy cho mình một ngôi nhà, một ngôi nhà rõ ràng không thuộc về thế giới này.Ảnh: “Nostalghia” (1983), dir. Andrei TarkovskyTham khảo và lược dịch:“Escapism by Design: Paper Architecture in Late Soviet Cinema”, Raymond De Luca.(https://eefb.org/…/paper-architecture-in-late-soviet…/