[Phân tích phim] Màn sương mờ chiến tranh/ lịch sử trong phim “Những ngày buốt lạnh” (Hideg napok, 1966) của đạo diễn András Kovács

Wait 5 sec.

Đã có một thời gian dài công luận Hungary tồn tại một sự chối bỏ tập thể với quá khứ phát xít, coi những sự kiện xảy ra trong Thế chiến thứ hai, hay sự hợp tác với Đức quốc xã, là “bị bắt làm con tin bởi chủ nghĩa phát xít”. Bộ phim “Những ngày buốt lạnh” (Hideg napok, 1966) của đạo diễn András Kovács (1), chuyển thể từ tiểu thuyết của Tibor Cseres, khai thác đề tài vụ thảm sát Novi Sad năm 1942, đánh dấu một bước ngoặt lớn về nhận thức tập thể. Nhà lý luận Macxit, György Lukács, đã từng nhận định vào thời điểm phim ra mắt, rằng nhìn nhận Hungary như bị bắt cóc bởi chủ nghĩa phát xít, là sai lầm. “Diễn tiến các sự kiện đưa đất nước ta vào chủ nghĩa phát xít bắt đầu từ năm 1867, và chúng ta chưa bao giờ thoát khỏi cái gọi là con đường phát triển thành một thứ như “Vương quốc Phổ”. Cuộc cách mạng 1918-1919 (cách mạng Cộng hòa Xô Viết Hungary) quá ngắn ngủi để dẫn đến những thay đổi có tính quyết định. Hungary, vốn chưa bao giờ xóa bỏ triệt để tàn tích phong kiến, bước vào chủ nghĩa phát xít với sự ủng hộ cuồng nhiệt”. Triết gia Ágnes Heller cũng nói về tầm quan trọng sau khi phim “Những ngày buốt lạnh” được công chiếu: “Người Hungary lần đầu tiên kể từ sau thế chiến, nhìn nhận người Do Thái như những nạn nhân. Trước đó, chỉ có các thành phần Phát xít và lực lượng Cộng sản”.Tibor Cseres, người viết cuốn tiểu thuyết “Những ngày buốt lạnh”, vốn nằm trong trong lực lượng hiến binh dưới chế độ Phát xít Horthy và đã đóng quân ở Novi Sad sau vụ thảm sát năm 1942. Kết thúc thế chiến thứ nhất, với bản Hòa ước Trianon năm 1920, một phần đáng kể lãnh thổ Hungary bị chuyển giao cho các nước láng giềng, cũng như nền quân chủ Áo-Hungary bị giải thể. Được coi như một trong những sự kiện nhục nhã nhất trong lịch sử Hungary, đã có những phong trào phản đối lớn chống lại Hòa ước Trianon và đòi tái lập nước “Đại Hung”. Trong thế chiến thứ hai, thời kỳ 1938-1941, sau khi Nam Tư bị Đức phát xít chiếm đóng, Hungary dưới chế độ Horthy đã tham chiến cho bên phát xít và kiểm soát các vùng lãnh thổ đã bị cắt cho các nước láng giềng. Ở vùng Novi Sad (hiện thuộc Serbia), dưới sự chiếm đóng của Hungary, nhiều lực lượng đã nổi dậy. Vụ thảm sát Novi Sad diễn ra nhằm “trả thù” cho việc một vài hiến binh và quân nhân Hungary bị một nhóm du kích Serbia sát hại. Ít nhất 3.300 người thuộc sắc tộc Do Thái hoặc Serbia đã bị quân của chế độ Horthy bắn chết và vùi xác ngay tại dòng sông Danube băng giá. Vụ thảm sát đã gây ra làn sóng bất bình lớn trong công luận quốc tế. Nhà văn Cseres, đã ghi lại những gì mình chứng kiến và biết từ sự kiện, rồi giấu nó đi, không hi vọng có ngày công khai. Những ghi chú đó nằm im trong một chiếc hộp suốt 18 năm và cuối cùng ông cũng viết cuốn “Những ngày buốt lạnh”, một tác phẩm đồng thời buộc tội chính bản thân ông như một bánh răng trong cỗ máy tội ác của chế độ Horthy.Không gian tự sự của “Những ngày buốt lạnh” diễn ra trong phòng giam một nhà tù, khi bốn hiến binh của chế độ Horthy chờ xét xử của Tòa án Nhân dân vì vai trò trong vụ thảm sát Novi Sad. Tuyến tự sự được kể theo các dòng hồi tưởng, tựa theo phong cách phim “La Sinh Môn” của Kurosawa”, trong đó người xem/ người đọc phải ghép lại các mảnh tường thuật và ký ức, để khám phá số phận của người vợ tướng Büky, người không để lại dấu vết gì sau vụ việc ở Novi Sad. Các lời khai, cả đối thoại lẫn độc thoại, là những màn đối chất và cùng lúc phủ nhận vai trò của từng người trong vụ thảm sát; nhưng người xem hiểu được cả bốn người đàn ông, dù trong hoàn cảnh khác nhau với tính cách phức tạp như nào, đều đồng lõa với tội ác của chế độ và đều trực tiếp hoặc gián tiếp dính trên tay máu người vô tội, thậm chí là chính người thân mình. Một cuộc kiểm nghiệm về tội ác tập thể và trách nhiệm cá nhân giữa “màn sương mờ của lịch sử”, giữa cỗ máy chiến tranh và diệt chủng. Các ký ức và lời khai của bốn hiến binh, hé lộ các thao tác qua lại giữa nhận diện và nhận diện sai lệch, những màn hành quyết tùy tiện và bạo lực phi lý. Một tội ác mà trong đó ngay “những người bình thường nhất”, theo lời của György Lukács, cũng trở thành “những tên tội phạm phát xít”.Trong hoàn cảnh hỗn loạn của chiến tranh và vụ thảm sát Novi Sad, các trật tự xã hội và nhận dạng danh tính đều bị đảo lộn, phá vỡ và trở thành vô dụng. Đầu tiên là việc quân Hungary nhận dạng quân đội du kích hoặc gián điệp. Việc sử dụng nguyên tắc bất kỳ ai vẫn còn lảng vảng trên đường phố sau giờ thiết quân luật/ giới nghiêm mà không mặc trang phục quân đội Hungary sẽ bị bắn, và nó đã dẫn đến một vụ giết nhầm người phụ nữ đã “giúp” Trung úy Tarpataki (2) khi bà ta vội vã quay về nhà chăm sóc người chồng ốm. Thứ hai, là nhận dạng dựa trên trên tầng lớp, giai cấp. Các chi tiết trong phim hé lộ những khác biệt về tầng lớp giai cấp trong chiến tranh, chỉ là những ảo ảnh đánh lừa về trang phục, cử chỉ và hóa trang. Một người phụ nữ bán hoa, thì bị tưởng nhầm là vợ của hiến binh Hungary, vì mặc áo choàng lông và có những hành động quả cảm. Trong khi đó chính vợ của tướng Büky, vốn tạo ấn tượng “nổi bật trong đám đông, một người phụ nữ thân hình cao, uy nghi, kiêu hãnh”, thì vào giờ phút sinh tử của đời mình, những tên lính hành quyết đã không nhận ra cô. Armin, vị chủ nhà người Do Thái nơi tướng Büky ở, cố tình mặc áo và mũ đóng giả làm vị tướng, nhưng rốt cục nỗi sợ hãi và cái tên Do Thái khiến ông ta bị hành quyết tại chỗ. Thứ ba là nhận diện dựa trên sắc tộc. Trong vùng Novi Sad, những người Do Thái, Serbia và Hungary đã sống trong các cụm dân cư nhà nối nhà, mà dường như khó có sự phân biệt giữa họ. Viên tướng Büky trong phim cùng lúc có mối quan hệ và sống với ba người phụ nữ: người vợ Rózsa, thuộc tầng lớp quý tộc Hungary với tư tưởng bài Do Thái; bà chủ nhà người Do Thái – Edit (mà mô tả trong phim “nhìn không giống người Do Thái”) và cô giúp việc người Serbia – Milena, có ngoại hình gần giống bà vợ Rózsa. Thế nhưng vào thời khắc tăm tối nhất của phim, giữa những đoàn người bị quân đội Hungary hành quyết, danh tính của ba người phụ nữ bị lộ diện khi hiến binh Hungary phát hiện tên đầy đủ của Edit và chất giọng Serbia của Milena. Tuy nhiên, cỗ máy diệt chủng tàn bạo còn tước đoạt toàn bộ nhân tính cuối cùng của ba người phụ nữ. Những khác biệt về tầng lớp và sắc tộc của họ trước được dùng để phân biệt, nhanh chóng bị gạt bỏ, chỉ còn là những đối tượng để cưỡng bức tình dục trong đôi mắt của bọn hiến binh thảm sát.Một trong những phân cảnh mô tả rõ nhất sự sụp vỡ của những lằn ranh về giai tầng, sắc tộc và giới tính trong cuộc thảm sát, là cảnh người phụ nữ bán vé tàu “giúp” Trung úy Tarpataki phân biệt người dân địa phương trong vùng với người lạ. Những người không được xác nhận là dân trong vùng, là quen biết, đều bị tử hình. Khung hình phim bao gồm ba người: người phụ nữ bán vé đứng giữa hai tên hiến binh. Ban đầu, bà ta rất bình thản và thậm chí còn mỉm cười khi nhìn thấy một, hai người thân thiết với mình. Nhưng với mỗi tiếng hô của bà ta “Tôi biết người này” và “Tôi không biết người này”, đoàn người được chia làm hai bên. Bà bán vé ngày càng lo lắng và giận dữ khi nhận ra chính bản thân mình giờ là người quyết định số phận của dân trong vùng. Cảnh quay thắt chặt lại, khuôn mặt người phụ nữ bán vé chiếm trọn toàn bộ khung hình, cắt liền với cảnh khuôn mặt những người dân đi qua bà ta. Người phụ nữ sụp đổ, và dần dần câu duy nhất bà ta hô là “Tôi biết người này”. Sau đó, khi bà vội vã trở về nhà, quá giờ thiết quân luật, bà đã bị bọn hiến binh bắn nhầm trong một thao tác nhận diện sai lệch dân địa phương/ quân du kích. Lời cuối cùng bà ta nói: “Chúa đã trừng phạt tôi. Đáng nhẽ tôi nên biết tất cả những người đó”. Vụ thảm sát Novi Sad trong phim cũng tương đồng với tình cảnh rất nhiều vùng dưới sự chiếm đóng của quân phát xít, trong đó hàng xóm buộc phải khai ra nhau và giết hại lẫn nhau trong các cuộc thanh lọc sắc tộc. Những người vô tội bị sát hại và những người thân thiết, sống cùng nhau, bị kích động giết hại hoặc phải chịu trách nhiệm cho số phận của người khác.Bên cạnh việc tạo tiếng vang và thức tỉnh công chúng đối diện với một trong những vết nhơ thảm khốc nhất của lịch sử Hungary, “Những ngày buốt lạnh” cũng tạo dấu ấn với người xem bởi các kỹ thuật tự sự phi truyền thống và phi tuyến tính. Nhà phê bình Gábor Gelencsér đã gọi “Những ngày buốt lạnh” cùng với “Hai mươi giờ” (1965) của Zoltán Fábri, bên cạnh các tác phẩm của Làn sóng mới Hungary, là những thành tựu quan trọng và tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện đại Hungary”. Cũng đáng chú ý là motip dàn cảnh mise-en-scène đặc trưng bởi màu trắng của đạo diễn András Kovács trong phim: màu trắng của bức tường gian nhà tù, của tuyết phủ trong thị trấn Novi Sad và của sương mờ trên sông Danube. Trong không gian nhà tù tường trắng, ánh sáng cảnh quay luôn ở độ tương phản cao, và bốn hiến binh trước ngày xét xử luôn được quay ở góc cận cảnh và dàn cảnh ở góc thấp hoặc góc chéo. Ở đó, các trật tự xã hội bị lột bỏ, và mỗi lời thú nhận dù sáo rỗng nhất vẫn phảng phất tính hiện sinh. Trong nền tuyết phủ trắng xóa thị trấn Novi Sad, người xem thường xuyên thấy cộng đồng dân cư theo nhóm to nhóm nhỏ, được quay ở trung cảnh hoặc trung cảnh rộng (thỉnh thoảng là cảnh tượng một dáng hình cô độc trong tuyết). Tuy nhiên đến khi xuất hiện hình ảnh sương mờ phủ trên sông Danube ở đầu phim lẫn trường đoạn gần cuối phim, chúng ta chứng kiến một vụ nổ, một cái hố trên sông băng và theo đó là hình ảnh những dáng người thấp thoáng. Con người, trong lớp sương mờ và đứng trước vụ thảm sát, chỉ còn là những hình bóng, không còn là những nhân dạng, hoặc có lẽ chủ ý còn không được nhận dạng là con người.Hình ảnh lớp sương mờ lịch sử/ sương mờ chiến tranh, trong đó vừa bóc trần lại cùng lúc che giấu đi vụ thảm sát trên sông Danube, là một hình tượng tiêu biểu trong các phim về đề tài Holocaust, nạn diệt chủng người Do Thái. Nó được gợi ra từ bộ phim “Đêm đen và sương mù” (1955) của Alain Resnais, gắn liền với Chỉ thị cùng tên của Hitler dùng để “tiêu diệt các thành phần kháng chiến ở Tây Âu”. Theo chỉ thị này, những người chống lại Đức quốc xã sẽ bị bỏ tù hoặc sát hại, họ biến mất trong đêm đen và sương mù tại một vùng hẻo lánh nào đó mà người dân và gia đình sẽ không thể có manh mối gì về số phận họ. Đối với phim “Những ngày buốt lạnh”, hình ảnh sương mờ trên sông Danube là một biểu tượng đa nghĩa. Đó có phải là lớp sương mờ của “chiến tranh” hỗn mang, được dùng để bào chữa cho logic và tội ác của bè lũ diệt chủng? Hay đó là “sương mờ” của lịch sử, một thứ rào chắn tạm thời giữa quá khứ và hiện tại mà che mờ và làm méo mó đi sự thật? Lớp sương mờ ấy cũng là biểu trưng cho tất cả những thao tác nhận diện sai lầm đã tước đoạt đi tính mạng của rất nhiều người vô tội: nhận diện sai lầm vợ của tướng Büky; nhận diện sai lầm các sắc tộc Hungary, Do Thái và Serbia; các vụ hành quyết dân thường vì bị tố là quân du kích. Và cuối cùng là sự chối bỏ tập thể của đất nước Hungary cho trách nhiệm, cho đạo đức và cho nhận thức rằng vụ thảm sát từng xảy ra. Với những ai đối diện với sự thật lịch sử, màn sương mờ càng làm tăng thêm nỗi kinh hoàng của những sự kiện đằng sau. Với những ai luôn muốn chối bỏ, màn sương càng là công cụ thỏa đáng phục vụ mục đích của họ.“Những ngày buốt lạnh” tạo được tiếng vang vô cùng lớn vào thời điểm ra mắt, với hơn 600.000 người xem trong ba tuần đầu công chiếu tại Hungary. Bộ phim đã giành được Giải thưởng lớn (Grand Prize) tại Liên hoan phim Karlovy Vary ở Tiệp Khắc và đánh dấu András Kovács như một trong hai nhà làm phim lớn của Làn sóng điện ảnh mới Hungary, cùng với Miklós Jancsó. Trong quá trình nhìn nhận lại sự chối bỏ trách nhiệm tập thể của người Hungary với tội ác thời kỳ phát xít giữa màn sương mờ lịch sử, đạo diễn Kovács cũng khẳng định giá trị của tác phẩm với cả thời điểm hiện tại ra mắt phim, vượt ngoài biên giới quốc gia. Ông cho rằng chủ nghĩa phát xít không phải là thứ sản phẩm đặc thù ở Hungary và không chỉ nằm im trong quá khứ, vì những gì xảy ra trong cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam cho thấy những tội ác tương tự như Novi Sad vẫn tiếp diễn. Tác động của bộ phim là không thể phủ nhận: nằm trong xu thế tưởng nhớ nạn diệt chủng Do Thái trên toàn cầu và những cuộc tranh luận gợi ra từ bộ phim và tiểu thuyết, không chỉ công chúng Hungary thức tỉnh mà kể từ nửa sau những năm 60, thành phố Novi Sad bắt đầu công khai tưởng nhớ vụ thảm sát năm 1942.Link phim và phụ đề tiếng Anh: https://tinyurl.com/3bu9m2abChú thích:(1) Bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết về phim “Trại ngựa giống” (A ménesgazda, 1978), cũng là một tác phẩm đặc sắc của đạo diễn András Kovács mà Hội từng viết: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=733688985429279&set=pb.100063645516528.-2207520000&type=3(2) Đáng chú ý trong việc lựa chọn diễn viên đóng vai Trung úy Tarpataki từ phía đạo diễn Kovács và nhà văn Cseres, trung tâm đạo đức của phim, là nam diễn viên Iván Darvas, người từng tham gia sự kiện chính biến năm 1956. Ông ở trong tù từ năm 1957 đến 1959, đi lao động cải tạo từ năm 1959 đến 1963 và mới chỉ quay lại công việc diễn xuất thời gian ngắn trước khi “Những ngày buốt lạnh” được bấm máy. Ông cũng từng đóng vai người chồng ngồi tù trong phim “Yêu” (1971) của đạo diễn Károly Makk mà Hội đã làm phụ đề tiếng Việt: https://www.facebook.com/…/a.429614013…/1304367123049598, cũng như có viết bài ngắn về những chuyện hậu trường của phim: https://www.facebook.com/photo.php?fbid=734348138696697&set=pb.100063645516528.-2207520000&type=3Nguồn lược dịch và tham khảo:Klimó, Árpád von. “1956 and the Collapse of Stalinist Politics of History: Forgetting and Remembering the 1942 Újvidék/Novi Sad Massacre and the 1944/45 Partisan Retaliations in Hungary and Yugoslavia (1950s-1960s).” The Hungarian Historical Review 5, no. 4 (2016): trang 739–66. https://doi.org/https://www.jstor.org/stable/44390813.Labov, Jessie. “Cold Days in the Cold War on the Hungarian–Serbian Border.” Studies in Eastern European Cinema 6, no. 2 (ngày 8, tháng 5, 2015): trang 139–53. https://doi.org/10.1080/2040350x.2015.1025475.Nguyễn, Hoàng, and Mai Vân. “Quá Khứ Phát Xít Của Hungary Bị Công Lý Phán Xét.” RFI, đăng ngày 24, tháng 5, 2011. https://www.rfi.fr/…/20110524-qua-khu-phat-xit-cua…