Trên phương diện mỹ học, hình thái biểu hiện của cái đẹp được chia thành ưu mỹ và cao thượng (siêu phàm). Ưu mỹ là hình thức chung nhất của vẻ đẹp (hay theo nghĩa hẹp chính là đề cập đến sự sang trọng). Còn siêu phàm là một loại vẻ đẹp uy nghiêm thoát tục. Nó khơi dậy phẩm giá và sự tự tin của con người, thôi thúc con người theo đuổi những điều vĩ đại cao cả. Tác động của nó đến con người cũng vô cùng mạnh mẽ. Nó không chỉ tạo ra cảm giác ngây ngất thăng hoa mà còn kích thích tinh thần, khiến con người rơi vào một loạt những trạng thái phấn chấn hân hoan, xúc động mãnh liệt và thậm chí là đánh mất tự chủ bản thân.Viết tới đây, có lẽ chúng ta cũng dần nhận ra rằng đây chính là biểu hiện của tình cảm yêu – ghét ở cảnh giới cao nhất? Thông thường, tình yêu khi đến cực hạn sẽ dễ nảy sinh hận thù. Thế nhưng, ở một trạng thái cao hơn, cũng có tình yêu từ hận thù mà nảy nở đơm bông kết trái. Về cơ bản, yêu – ghét chính là quá trình xung đột của cái “cao thượng” (siêu phàm) hết lần này đến lần khác. Để trả thù người mình ghét, trút bỏ hận thù, có lẽ phần đa con người vẫn hay dùng tới “hạ sách”, đày đọa đối tượng để nhằm đạt được mục đích của mình. Song với “Intimate Confessions of a Chinese Courtesan” (1972), đạo diễn Sở Nguyên lại mở ra một hướng giải quyết hoàn toàn khác về mối quan hệ yêu – ghét này: dùng chính tình yêu để bắt kẻ thù mình phải trả giá. Biết càng phản kháng, lại càng chẳng thể giúp mình thoát khỏi xiềng xích đọa đày, Ái Nô theo kẻ thù mình (Xuân Di) rèn luyện võ nghệ. Biết ả ta háo sắc có tư tình riêng với mình, cô nguyện ý dùng thân đổi lấy lòng tin của ả. Quyết tâm gậy ông đập lưng ông, ăn miếng trả miếng, nhịn nhục báo thù.Sở Nguyên nói: “Trả thù bằng tình yêu còn độc ác hơn trả thù bằng lòng căm hận”. Trong Phật giáo, tham, sân, si được gọi là tam độc. Chúng làm hại thân tâm, làm cho con người chìm vào vòng luân hồi sinh tử, là căn nguyên của mọi tội ác. Khi vạch ra tình tiết Xuân Di dần có tình cảm sâu đậm với kẻ mình bắt cóc (Ái Nô), có lẽ Sở Nguyên đã chọn sẵn cho ả một cái kết không thể cay đắng và thấm thía hơn. “Yêu” nảy sinh “dục”, khởi lòng tham ái: điều khiển, chi phối, chiếm lấy, buộc phải có được “đối phương”. Đầu tiên là giận dữ, sau đó là tuyệt vọng, sau cùng là thỏa hiệp và rồi buộc phải chấp nhận kết cục bi đát. Vì vậy, làm ai đó tức giận thì rất dễ, nhưng cái khó là làm thế nào khiến người khác phải quy phục trước mình? Ái Nô biết giận dữ, oán giận chỉ vô nghĩa. Lòng căm ghét chỉ khiến cô dễ mất đi bình tĩnh và hành động bốc đồng, đẩy bản thân vào tình thế bất lợi hơn cho mình. Bởi vậy, cô lợi dụng tình yêu của kẻ thù, khiến đối phương phải rơi bước đường cùng tuyệt vọng bất lực. Ép cô ta vì tình yêu mà lựa chọn cái chết chung.Tuy nhiên, cái hay cũng như đặc sắc của “Intimate Confessions of a Chinese Courtesan” không chỉ dừng lại ở ý tưởng táo bạo, khả năng bóc tách khắc họa đa chiều tâm lý nhân vật (đặc biệt là “phản diện”). Mà nó còn phán chiếu những ý niệm sâu xa hơn thế về mối quan hệ con người nói chung. Cũng giống như mọi loại tình cảm khác, tình yêu cũng được xây dựng dựa trên mối quan hệ con người. Về mặt vi mô (cấu trúc xã hội), bất cứ mối quan hệ con người nào cũng đều tồn tại và có sự khẳng định của “quyền lực cá nhân” trong mối quan hệ tình cảm ấy. Tình yêu cũng vốn chưa bao giờ có sự công bằng. Và trong tình cảm đơn phương (một chiều) cũng vậy, luôn hiển hiện hai vai trò là người cho đi tình yêu và người được yêu. Hay nói chính xác dưới vai trò cấu trúc xã hội là: kẻ thượng phong (thống trị, thao túng) và người quỵ lụy (nhược tiểu, truy cầu tình yêu thương nhượng bộ từ đối phương).Như vậy, qua mô típ yêu hận tình thù, cưỡng bức về mặt tình cảm này; Sở Nguyên vô hình chung “đảo ngược” vị trí quyền lực cá nhân của chính phụ. Người ban đầu “cầm cương” trong mối quan hệ yêu – ghét bỗng trở thành kẻ phải quỵ lụy: chấp nhận, cầu xin, van lơn tình yêu từ người mình đã từng bắt cóc. Còn nạn nhân, người bị áp chế trong suốt mối quan hệ sau cùng lại là “kẻ thượng phong”: ban phát “tình cảm” cũng như có quyền hạ thủ chính kẻ đã giết chết cuộc đời nàng. Có lẽ, cũng giống như nhiều bộ phim tiên phong có yếu tố “đồng tính nữ” cùng thời khác, “Intimate Confessions of a Chinese Courtesan” không giải quyết tuyến tình cảm giữa hai nhân vật như các bộ phim thông thường. Toàn bộ sắc thái tình cảm luyến ái được kết lại và biểu thị ngầm qua mô hình “vai trò quyền lực” trong phim. Hay cụ thể hơn là được “ám thị” dưới cái kết “nhân quả” chung của câu chuyện: ai là người thắng thế, ai là người phải nhượng bộ (từ bỏ).Có lẽ trước nay khi nhắc đến “Intimate Confessions of a Chinese Courtesan”, người đời vẫn hay “ca tụng” nó như một sản phẩm tai tiếng mang nhiều dấu ấn của thời đại – “bộ phim có yếu tố đồng tình nữ đầu tiên của Trung Quốc”, một bộ phim hạng B với nhiều yếu tố dễ gây tranh cãi. Mà không biết rằng nó có lẽ là bộ phim Trung Quốc đầu tiên xây dựng hình tượng “ác nữ” (phản nghịch); lật đổ “male gaze”; ngang nhiên phá bỏ mô típ “anh hùng” quen thuộc trong thể loại phim kiếm hiệp; châm chọc chế độ quan liêu địa phương, vạch trần hết thảy các thế lực tội ác trong xã hội phong kiến… Chỉ hằng ấy khía cạnh thôi, có lẽ cũng đã đủ khiến khán giả phải công tâm xem xét nhìn nhận lại giá trị thực của một tác phẩm điện ảnh như “Intimate Confessions of a Chinese Courtesan”, cũng như tài năng nhãn quan tân thời tiến bộ của người thực hiện nó “Sở Nguyên”. Hồi tưởng lại bộ phim, ông nói:“Cảnh đẹp nhất là cảnh hai người phụ nữ hôn nhau sau tấm rèm. Cảnh này khi quay chưa từng được diễn tập. Vừa khai máy liền ghi hình, quay một lần là đạt. Nụ hôn thật đẹp, có thể nói là kinh điển trong lịch sử phim Trung Quốc.”